Cuối tháng 3 vừa rồi, Câu lạc bộ các công ty niêm yết đã tổ chức cuộc tọa đàm với chủ đề “Chiến lược tài chính và nghệ thuật thu xếp vốn trong thời kỳ khủng hoảng”. Diễn giả là một chuyên gia khá quen thuộc trong giới tư vấn tài chính doanh nghiệp, bà Đào Phượng Thúy, giám đốc Công ty PTI.
Các “đại gia” thế giới tụt hạng
Bà Đào Phượng Thúy đã cho biết kết quả thống kê mới nhất về cơn bão khủng hoảng kinh tế - tài chính khởi nguồn từ Mỹ và lan ra toàn cầu. Trong đó, đáng chú ý là sự tụt hạng thê thảm của các đại gia tài chính – ngân hàng trong bảng xếp hạng về giá trị vốn hóa thị trường và mức độ an toàn.
Citi Group từ vị trí số một nay tụt xuống thứ 49 về giá trị vốn hóa. Ngân hàng này cũng bị loại khỏi danh sách 50 ngân hàng an toàn nhất. Đại gia Goldman Sachs giảm xuống hạng 39, Deutsch Bank xuống hạng 44, UBS xuống hạng 47.
Trong khi các ông lớn mất mặt và suy yếu, một số ngân hàng nhỏ hơn với hoạt động đầu tư hạn chế vọt lên mạnh mẽ. Nhưng nghịch lý là ở chỗ sự lên hạng của các ngân hàng này không phải do họ mạnh lên mà là chỉ do các đại gia yếu đi. ANZ nhảy lên ngồi số 19, BB&T lên hạng 2, Hang Seng Bank lên hạng 5...
Tương quan quyền lực của các ngân hàng lớn thay đổi chỉ cho thấy một kết quả không khả quan: suy thoái kinh tế đã là một cơn cuồng phong mạnh mẽ. Ngay cả các đế chế tài chính đầy uy tín và tầm chi phối đến kinh tế thế giới nay cũng lao đao.
Những biến động xấu ở thị trường Việt Nam
Theo bà Thúy, những thay đổi trên thị trường Việt Nam thời gian qua cũng theo chiều hướng xấu. Đó là xuất khẩu sụt giảm, việc giải ngân đầu tư trực tiếp nước ngoài chậm lại. Bên cạnh đó, kiều hối cũng suy giảm và thị trường bất động sản đóng băng. Thị trường chứng khoán đã rớt điểm với tốc độ nhanh nhất châu Á. Hai tín hiệu khác là vàng và tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Trong khi đó, giá thép, vật liệu xây dựng thi nhau giảm giá lớn.
Cùng với đó, về mặt tài chính – tiền tệ, các công cụ điều hành của Nhà nước cũng thay đổi liên tục. Lãi suất cơ bản đã thay đổi 8 lần trong năm 2008 và hiện giảm xuống còn 7%. Biên độ giao dịch tỉ giá cũng thay đổi 4 lần; hiện là +/- 5%. Ngân hàng nhà nước đã siết chặt nghiệp vụ cho vay bất động sản, chứng khoán; gần đây thì mở lại rộng hơn cho kênh tiêu dùng.
Trước cơn bão suy thoái, nhiều doanh nghiệp nhỏ đã mất thị trường và xuống hạng tín dụng, khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Vậy các doanh nghiệp sẽ phải áp dụng chiến lược thu xếp vốn như thế nào khi thị trường tài chính có nhiều biến động xấu?
Theo ý kiến của nhiều người tham dự cuộc tọa đàm, vấn đề khó khăn phổ biến với đa số doanh nghiệp Việt Nam không phải là viết ra một bản chiến lược. Cái khó là thị trường Việt Nam có quá nhiều biến số và ẩn số từ chính sách vĩ mô, từ môi trường pháp lý.
Giám đốc một công ty tư vấn cho biết anh và cộng sự đã mất hai ngày để viết bản kế hoạch tài chính. Nhưng các dữ liệu về thị trường hầu hết phải... đoán mò, vì không có nguồn tham khảo đáng tin cậy.
Một vấn đề khác là khi thị trường hay chính sách biến động lớn, khả năng điều chỉnh các thông số của doanh nghiệp cho sát hợp cũng là điều không đơn giản.
Nói một cách khác, đa số các doanh nghiệp chỉ chuẩn bị nền móng cho ngôi nhà cao ba tầng. Nhưng trong quá trình phát triển, ngôi nhà đã cao lên 25 tầng nhưng móng vẫn thế. Tuy nhiên, thay đổi nền móng là điều không dễ.
Mô hình huy động, thu xếp vốn
Bà Thúy cho rằng doanh nghiệp phải đề ra các trụ cột trong chiến lược tài chính của mình. Đó là chiến lược phục vụ sự tăng trưởng của doanh số bán; của lợi nhuận trước thuế; gia tăng hiệu quả trong quản lý vốn lưu động; gia tăng hiệu quả trong quản lý vốn cố định, trong kiểm soát chi phí sử dụng vốn; gia tăng hiệu quả trong quản lý thuế. Sau cùng là các kế hoạch tài chính ngắn, trung và dài hạn, với các biện pháp giảm thiểu rủi ro.
Mô hình huy động vốn tóm tắt gồm nhiều bước. Doanh nghiệp phải xác định các giải pháp huy động vốn. Từ đó, xác định được các tiêu chí cụ thể trong lựa chọn giải pháp và phân tích các mối quan hệ. Trên cơ sở phân tích, doanh nghiệp sẽ thiết lập các cuộc gặp gỡ đối tác có thể tài trợ vốn để cung cấp thông tin. Sau đó, bước tiếp theo là chuẩn bị cho công tác tái thẩm định. Cuối cùng là đàm phán và ký kết hợp đồng.
Trong các giải pháp huy động vốn từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có thể tận dụng dòng tiền từ những thay đổi của vốn lưu động (khấu hao, thuế). Dòng tiền thứ hai là từ chính sản xuất kinh doanh: tiền khách hàng trả nợ, tiền ứng trước, tiền mua hàng chiếm dụng của nhà cung cấp... Tuy nhiên, việc chiếm dụng vốn không nên là một “bí quyết” áp dụng thường xuyên, vì sẽ làm giảm uy tín.
Bên cạnh đó, có ý nghĩa rất quan trọng là các giải pháp huy động vốn từ bên ngoài. Dòng tiền này có thể đến từ hoạt động đầu tư (mua bán tài sản cổ phiếu, trái phiếu đầu tư vào công ty khác). Mặt khác, dòng tiền từ hoạt động tài chính cũng đóng một vai không nhỏ (tiền vay, thuê mua tài chính, trả cổ tức...).
Cùng có mặt trong tọa đàm này, nhà đầu tư Alan Phan, Việt kiều Mỹ chia sẻ thêm một số kinh nghiệm tốt. Theo ông Alan Phan, quy mô các công ty Việt Nam nhìn chung là nhỏ, dễ thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Các công ty Việt Nam có thể tìm nhà tư vấn để tìm kiếm đối tác đầu tư. Tiếp đó là phải minh bạch trong cung cấp thông tin; tạo niềm tin bằng các ý tưởng độc đáo. Và để tìm nguồn vốn lớn, giảm bớt chi phí thì các doanh nghiệp nhỏ nên sáp nhập thành một công ty lớn hơn.
HOÀNG TUẤN